Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 8/2025, chăn nuôi lợn bị ảnh hưởng do dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp; chăn nuôi gia cầm tăng khá do các điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát tốt, không bùng phát các ổ dịch dịch bệnh gia cầm lớn, giá bán sản phẩm ở mức ổn định. Ngược lại, số lượng trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả kinh tế chưa cao và diện tích chăn thả bị thu hẹp. Ước tính đến cuối tháng 8/2025, đàn lợn của cả nước tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, đàn gia cầm tăng 3,6%, trong khi tổng số trâu giảm 3,7%, đàn bò giảm 0,9%. Cụ thể:
Chăn nuôi lợn: Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 8/2025 tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2024. Dịch DTLCP chủ yếu bùng phát do các hộ, cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ không đảm bảo các điều kiện an toàn sinh học, các biện pháp kiểm soát như sát trùng, cách ly, kiểm soát người và phương tiện ra vào chuồng trại. Mặt khác, thời tiết giao mùa, mưa nhiều, độ ẩm cao đã làm giảm hiệu quả khử trùng, tạo môi trường thuận lợi cho virus tồn tại và lây lan, và xuất hiện chủng virus mới có độc tính cao hơn.
Chăn nuôi gia cầm: Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 8/2025 tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2024. Gia cầm tăng do các điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát tốt, không bùng phát các ổ dịch lớn, giá bán sản phẩm ở mức ổn định.
Chăn nuôi trâu, bò: Ước tính đến thời điểm cuối tháng 8/2025, tổng số trâu của cả nước giảm 3,7% so với cùng kỳ năm 2024; tổng số bò giảm 0,9%. Nguyên nhân chủ yếu là do thời gian nuôi kéo dài nhưng lợi ích kinh tế thấp khiến người dân dần chuyển sang các vật nuôi khác mang lại thu nhập tốt hơn.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: Sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2025 ước đạt 69,2 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2025 đạt 410,7 triệu USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 74,8 triệu USD, giảm 11,7%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 137,7 triệu USD, tăng 30,4%.
Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi: Sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2025 ước đạt 380,9 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2025 đạt 2,93 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 978,1 triệu USD, tăng 31,4%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,21 tỷ USD, tăng 11,4%.
Giá trị nhập khẩu nguyên liệu TACN: Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 8 năm 2025 ước đạt 350 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 8 tháng đầu năm 2025 đạt 3,02 tỷ USD, giảm 9,2% so với cùng kỳ năm 2024.
Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tính đến ngày 30/8/2025 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm như sau:
Bệnh Cúm gia cầm: Trong tháng 8, phát sinh 02 ổ dịch bệnh cúm gia cầm (CGC) tại 02 tỉnh, từ đầu năm đến nay 17 ổ dịch CGC tại 09 tỉnh, thành phố với số gia cầm tiêu hủy là 38,6 nghìn con
Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng 8, phát sinh 1,1 nghìn ổ dịch DTLCP tại 33/34 tỉnh, thành phố. Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 1,78 nghìn ổ dịch DTLCP tại 34/34 tỉnh, thành phố với số lợn tiêu hủy là gần 648 nghìn con.
Bệnh Lở mồm long móng (LMLM): Từ đầu năm đến nay, cả nước đã xảy ra 12 ổ dịch LMLM tại 08/34 tỉnh, thành phố; số gia súc mắc bệnh là 315 con, số gia súc chết và tiêu hủy là 36 con.
Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC): Trong tháng 8, phát sinh 11 ổ dịch viêm da nổi cục (VDNC) tại 05/34 tỉnh, từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 69 ổ dịch VDNC tại 12/34 tỉnh, thành phố với số gia súc tiêu hủy là 114 con.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại)
THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI
Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động giảm trong tháng 8/2025. Cụ thể, giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 7.200 đồng/kg xuống còn 53.000 – 56.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên giảm 6.600 đồng/kg, dao động trong khoảng 51.000 – 56.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam giảm 3.800 đồng/kg xuống còn 56.000 – 58.000 đồng/kg. Giá thu mua lợn hơi trong nước có xu hướng giảm do tâm lý e ngại dịch bệnh của người tiêu dùng khiến sức mua thịt lợn ở mức thấp.
Giá thu mua gà thịt lông màu biến động tăng tại cả ba miền trên cả nước. Giá gà thịt lông màu miền Bắc tăng 7.900 đồng/kg lên 61.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung tăng 7.200 đồng/kg lên mức 60.500 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam tăng 1.800 đồng/kg lên 61.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp biến động tăng tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 10.000 đồng/kg lên 33.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung tăng 2.000 đồng/kg, hiện ở mức 34.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Nam tăng 1.000 đồng/kg lên mức 34.000 đồng/kg. Giá gà tăng do sức mua tăng mạnh. Dịch tả lợn châu Phi đang bùng phát khiến người tiêu dùng chuyển sang tiêu thụ thịt gia cầm.
Giá thu mua trứng gà biến động tăng tại cả ba miền. Giá trứng gà miền Bắc tăng 50 đồng/quả lên 2.670 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung tăng 210 đồng/quả lên 2.570 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam tăng 50 đồng/quả lên 2.330 đồng/quả. Giá trứng tăng do nhu cầu sử dụng trứng làm bánh trung thu tăng cao.
Trong tháng 8/2025, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 10/2025 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động tăng với mức tăng 4,7 US cent/lb lên 93,9 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu thụ tăng.
Trong tháng 8/2025, giá bò sống kỳ hạn tháng 10/2025 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò sống) tăng 9,8 US cent/lb lên 239,525 US cent/lb. Giá bò sống tăng do báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cho thấy, tổng đàn bò và bê con của nước này giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Nguồn cung bò thấp kỷ lục càng bị hạn chế bởi việc cấm nhập khẩu bò tại biên giới Hoa Kỳ – Mexico đã thúc đẩy đà tăng của giá bò sống.
THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU
+ Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi:
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2025 ước đạt 69,2 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2025 đạt 410,7 triệu USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 74,8 triệu USD, giảm 11,7%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 137,7 triệu USD, tăng 30,4%.
+ Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Thức ăn gia súc xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc trong 8 tháng năm 2025, chiếm 44% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc tháng 8/2025 giảm 7,5% so với tháng 7/2025 nhưng tăng mạnh 45,8% so với tháng 8/2024, đạt gần 128,25 triệu USD. Tính chung 8 tháng năm 2025 xuất khẩu nhóm hàng này đạt gần 869,55 triệu USD, tăng 29,2% so với 8 tháng năm 2024.
Thức ăn gia súc xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc trong 8 tháng năm 2025, chiếm 44% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 382,42 triệu USD, tăng 41,3% so với 8 tháng năm 2024; trong đó riêng tháng 8/2025 đạt gần 59,39 triệu USD, giảm 6,9% so với tháng 7/2025 nhưng tăng mạnh 90,3% so với tháng 8/2024.
Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Campuchia chiếm tỷ trọng 13,2%, đạt trên 114,89 triệu USD, tăng 43,9% so với cùng kỳ năm 2024; riêng tháng 8/2025 xuất khẩu sang thị trường này đạt 19,02 triệu USD, tăng 11,4% so với tháng 7/2025 và tăng mạnh 41,5% so với tháng 8/2024.
Tiếp đến thị trường Mỹ trong tháng 8/2025 giảm 4,1% so với tháng 7/2025 và giảm 23,9% so với tháng 8/2024, đạt 10,62 triệu USD; cộng chung cả 8 tháng đầu năm 2025 xuất khẩu sang thị trường này giảm 14,5% so với 8 tháng năm 2024, đạt 75,99 triệu USD, chiếm 8,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc sang thị trường Malaysia trong tháng 8/2025 giảm 15,5% so với tháng 7/2025 nhưng tăng 14,7% so với tháng 8/2024, đạt 9,24 triệu USD; cộng chung cả 8 tháng năm 2025 xuất khẩu sang thị trường Malaysia tăng 7,9% so với 8 tháng năm 2024, đạt 72,76 triệu USD, chiếm 8,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Nhìn chung, xuất khẩu thức ăn gia súc trong 8 tháng năm 2025 sang đa số thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
+ Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi:
Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 8 năm 2025 ước đạt 380,9 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 8 tháng đầu năm 2025 đạt 2,93 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 978,1 triệu USD, tăng 31,4%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,21 tỷ USD, tăng 11,4%.
+ Nhập khẩu sữa vả sản phẩm từ sữa: (đang cập nhật)
+ Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu:
8 tháng năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc đạt gần 3,06 tỷ USD, giảm 8,1% so với 8 tháng năm 2024. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc tháng 8/2025 tăng 11,4% so với tháng 7/2025 nhưng giảm 15% so với tháng 8/2024, đạt trên 385,8 triệu USD. Tính chung 8 tháng năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 3,06 tỷ USD, giảm 8,1% so với 8 tháng năm 2024.
Thức ăn gia súc nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Achentina trong 8 tháng năm 2025, chiếm 38,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt gần 1,19 tỷ USD, tăng 16,9% so với 8 tháng năm 2024; trong đó riêng tháng 8/2025 đạt trên 134,12 triệu USD, tăng 17,4% so với tháng 7/2025 nhưng giảm 27,7% so với tháng 8/2024.
Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng 16,9%, đạt trên 515,75 triệu USD, giảm 27% so với cùng kỳ năm 2024; riêng tháng 8/2025 nhập khẩu từ thị trường này đạt 68,51 triệu USD, tăng 30,2% so với tháng 7/2025 và tăng 7,2% so với tháng 8/2024.
Tiếp đến thị trường Brazil trong tháng 8/2025 tăng 9,5% so với tháng 7/2025 nhưng giảm mạnh 46,7% so với tháng 8/2024, đạt 38,88 triệu USD; cộng chung cả 8 tháng năm 2025 nhập khẩu từ thị trường này giảm 21,2% so với 8 tháng năm 2024, đạt 375,83 triệu USD, chiếm 12,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.
– Nhập khẩu ngô:
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô các loại trong 8 tháng đầu năm 2025 đạt trên 6,75 triệu tấn, trị giá gần 1,73 tỷ USD, giá trung bình 256 USD/tấn, giảm 2,6% về lượng, nhưng tăng nhẹ 0,8% kim ngạch và tăng 3,5% về giá so với 8 tháng đầu năm 2024.
Trong đó, riêng tháng 8/2025 đạt 1,28 triệu tấn, tương đương 315,2 triệu USD, giá trung bình 246,5 USD/tấn, tăng 24,4% về lượng và tăng 20,9% kim ngạch nhưng giảm 2,8% về giá so với tháng 7/2025; so với tháng 8/2024 cũng tăng 7,5% về lượng, tăng 10,8% về kim ngạch và tăng 3,1% về giá.
Achentina là thị trường lớn nhất cung cấp ngô cho Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2025, chiếm 55% trong tổng lượng và chiếm 54,8% tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt gần 3,72 triệu tấn, tương đương trên 947,95 triệu USD, giá trung bình 255 USD/tấn, giảm 8,1% về lượng, giảm 3,1% kim ngạch nhưng tăng 5,4% về giá so với 8 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 8/2025 đạt 805.176 tấn, tương đương 197,67 triệu USD, giá 245,5 USD/tấn, tăng mạnh 46% về lượng và tăng 41,3% về kim ngạch so với tháng 7/2025 nhưng giá giảm 3,2%; so với tháng 8/2024 thì giảm 6,2% về lượng, giảm 4% kim ngạch nhưng giá tăng 2,3%.
Thị trường lớn thứ 2 là Brazil, 8 tháng đầu năm 2025 đạtần 1,48 triệu tấn, tương đương 367,9 triệu USD, giá 248,7 USD/tấn, chiếm 21,9% trong tổng lượng và chiếm 21,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm 17,2% về lượng, giảm 18,9% về kim ngạch và giá giảm 2,1% so với 8 tháng đầu năm 2024.
Bên cạnh 2 thị trường chủ đạo trên, Việt Nam còn nhập khẩu ngô từ thị trường Lào 8 tháng đầu năm 2025 đạt 51.975 tấn, tương đương 11,72 triệu USD, giá 225,5 USD/tấn, giảm 30,3% về lượng, giảm 37,1% về kim ngạch và giá giảm 9,8% so với 8 tháng đầu năm 2024; nhập khẩu từ thị trường Thái Lan đạt 3.417 tấn, tương đương 12,76 triệu USD, giảm 1,3% về lượng, nhưng tăng 2,9% về kim ngạch; nhập khẩu từ thị trường Campuchia 53.846 tấn, tương đương 12,41 triệu USD; nhập khẩu từ thị trường Lào 51.975 tấn, tương đương 11,72 triệu USD, giảm 30,3% về lượng, giảm 37% về kim ngạch.Nhập khẩu ngô 8 tháng đầu năm 2025
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/9/2025 của CHQ)

– Nhập khẩu đậu tương:
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương các loại trong 8 tháng năm 2025 đạt 1,81 triệu tấn, trị giá trên 837,61 triệu USD, giá trung bình 462,5 USD/tấn, tăng 25,2% về lượng, tăng 11% kim ngạch nhưng giảm 11,3% về giá so với 8 tháng năm 2024.
Trong đó, riêng tháng 8/2025 đạt 297.652 tấn, tương đương 141,7 triệu USD, giá trung bình 476,1 USD/tấn, tăng 1,8% về lượng, tăng 2,2% kim ngạch và tăng 0,4% về giá so với tháng 7/2025; so với tháng 8/2024 cũng tăng rất mạnh 125,4% về lượng, tăng 113,9% về kim ngạch nhưng giảm 5,1% về giá.
Brazil là thị trường lớn nhất cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2025, chiếm 57,2% trong tổng lượng và chiếm 57,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, đạt 1,04 triệu tấn, tương đương gần 483,69 triệu USD, giá trung bình 467,1 USD/tấn, tăng 21,4% về lượng, tăng 12,7% về kim ngạch nhưng giảm 7,2% về giá so với 8 tháng năm 2024; riêng tháng 8/2025 đạt 231.605 tấn, tương đương 110,72 triệu USD, giá 478 USD/tấn, giảm 0,5% về lượng, nhưng tăng nhẹ 0,01% kim ngạch và giá tăng 0,5% so với tháng 7/2025; so với tháng 8/2024 thì tăng rất mạnh 223% về lượng, tăng 220% kim ngạch nhưng giảm 0,9% về giá.
Thị trường lớn thứ 2 là Mỹ, 8 tháng đầu năm 2025 đạt 604.980 tấn, tương đương 273,17 triệu USD, giá 451,5 USD/tấn, chiếm 33,4% trong tổng lượng và chiếm 32,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng 28,6% về lượng, tăng 7,8% về kim ngạch nhưng giá giảm 16,2% so với 8 tháng năm 2024.
Sau đó là thị trường Canada 8 tháng năm 2025 đạt 136.071 tấn, tương đương 64,74 triệu USD, giá 475,8 USD/tấn, chiếm 7,5% trong tổng lượng và chiếm 7,7% tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng mạnh 63,5% về lượng, tăng 30,1% về kim ngạch nhưng giá giảm 20,4% so với 8 tháng năm 2024.Nhập khẩu đậu tương 8 tháng năm 2025
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/9/2025 của CHQ)

– Nhập khẩu lúa mì:
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì trong 8 tháng năm 2025 đạt gần 3,82 triệu tấn, trị giá trên 1,02 tỷ USD, giá trung bình 267,6 USD/tấn, tăng 3% về lượng, nhưng giảm 0,5% kim ngạch và giảm 3,4% về giá so với 8 tháng năm 2024.
Trong đó, riêng tháng 8/2025 đạt 555.116 tấn, tương đương 148,8 triệu USD, giá trung bình 268 USD/tấn, tăng mạnh 154,4% về lượng, tăng 145,7% kim ngạch và giảm 3,4% về giá so với tháng 7/2025; so với tháng 8/2024 cũng tăng 105,8% về lượng, tăng 103,2% về kim ngạch nhưng giảm 1,3% về giá.
Australia là thị trường lớn nhất cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 8 tháng năm 2025, chiếm 27,6% trong tổng lượng và chiếm 28,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, đạt 1,05 triệu tấn, tương đương trên 287,25 triệu USD, giá trung bình 272,8 USD/tấn, tăng 34,6% về lượng, tăng 18,9% kim ngạch nhưng giảm 11,7% về giá so với 8 tháng năm 2024; riêng tháng 8/2025 đạt 229.330 tấn, tương đương 63,44 triệu USD, giá trung bình 276,6 USD/tấn, tăng mạnh 202% về lượng, tăng 200,7% kim ngạch nhưng giảm 0,5% về giá so với tháng 7/2025; so với tháng 8/2024 cũng tăng 404,5% về lượng, tăng 345,7% về kim ngạch nhưng giảm 11,7% về giá.
Thị trường lớn thứ 2 là Brazil, 8 tháng đầu năm 2025 đạt 989.002 tấn, tương đương 254,41 triệu USD, giá 257,2 USD/tấn, chiếm 25,9% trong tổng lượng và chiếm 24,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, giảm 15,8% về lượng, giảm 13,2% về kim ngạch nhưng giá tăng 3,1% so với 8 tháng năm 2024; riêng tháng 8/2025 tiếp tục không nhập khẩu lúa mì từ thị trường này.
Tiếp đến thị trường Mỹ 8 tháng đầu năm 2025 đạt 469.707 tấn, tương đương 127,96 triệu USD, giá 272,4 USD/tấn, chiếm 12,3% trong tổng lượng và chiếm 12,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, tăng mạnh 81,5% về lượng, tăng 51% về kim ngạch nhưng giá giảm 16,8% so với 8 tháng đầu năm 2024.Nhập khẩu lúa mì 8 tháng năm 2025
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/9/2025 của CHQ)
