Đang tải...
Tiếng Việt Tiếng Việt
English English
/Dự báo tăng trưởng/TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 7/2025

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 7/2025

Bạn muốn nghe bài viết?

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ước tính đến cuối tháng 7/2025, đàn lợn của cả nước tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, đàn gia cầm tăng 3,9%, trong khi tổng số trâu giảm 4,1%, đàn bò giảm 0,8%. Trong tháng Bảy, bệnh dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, cả nước phát sinh 571 ổ dịch với số lợn chết và tiêu hủy trong tháng là gần 73,5 nghìn con. Bệnh dịch chủ yếu bùng phát tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tái phát từ ổ dịch cũ. Hiện nay các địa phương đang tập trung triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm phòng, chống và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh. Cụ thể:

– Chăn nuôi lợn: 

Trong tháng Bảy, bệnh dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, cả nước phát sinh 571 ổ dịch với số lợn chết và tiêu hủy trong tháng là gần 73,5 nghìn con. Bệnh dịch chủ yếu bùng phát tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tái phát từ ổ dịch cũ. Hiện nay các địa phương đang tập trung triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm phòng, chống và kiểm soát hiệu quả dịch bệnh.

Theo Cục Thống kê – Bộ Tài chính, tính đến cuối tháng 7/2025, tổng đàn lợn cả nước tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh/thành phố có mức tăng khá: Tây Ninh tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước; Sơn La tăng 11%; Lào Cai tăng 7,9%; Lâm Đồng tăng 3,5%; Tuyên Quang tăng 1,8%; Tp Hồ Chí Minh tăng 1,4%. Một số tỉnh có số lượng lợn giảm do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi là: Khánh Hòa giảm 14,7%; Phú Thọ giảm 4,8%; Hà Tĩnh giảm 2,6%; Hà Nội giảm 1,9%; Thái Nguyên giảm 1,2%.

– Chăn nuôi gia cầm:

Tổng đàn gia cầm cả nước tháng 7 ước tính tăng 3,9% so cùng kỳ năm trước (đàn gà tăng khoảng 4%), trong đó một số tỉnh/thành phố đàn gia cầm tăng mạnh: Đồng Tháp tăng 8,4%2; TP. Hồ Chí Minh tăng 7,3%; Nghệ An tăng 7,1%3; Bắc Ninh tăng 6,6%.

Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định nhờ chi phí đầu tư thấp, tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có, mặt khác nhu cầu tiêu dùng thịt, trứng gia cầm trên thị trường ổn định. Công tác tiêm phòng dịch bệnh được triển khai đầy đủ, giúp người nuôi yên tâm mở rộng quy mô.

– Chăn nuôi trâu, bò:

Tổng đàn trâu cả nước ước tính đến cuối tháng 7 giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao, trong đó một số tỉnh số lượng trâu giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 15,2%; Lạng Sơn giảm 14,3%; Thái Nguyên giảm 12,8%; Nghệ An giảm 5,8%.

Tổng đàn bò cả nước cuối tháng 7 ước tính giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh có đàn bò giảm nhiều: Thanh Hóa giảm 12%; Hà Tĩnh giảm 5,6%; Phú Thọ giảm 4,8%; Vĩnh Long giảm 4%, nguyên nhân chủ yếu do thiếu hụt nguồn thức ăn thô xanh, chi phí đầu vào tăng cao, trong khi giá cả đầu ra không ổn định, khiến người chăn nuôi phải thu hẹp quy mô hoặc chuyển đổi hình thức sản xuất. Tuy nhiên, có một số địa phương nhờ tận dụng tốt thị trường tiêu thụ cùng với việc đầu tư trang trại quy mô lớn, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến đã có mức tăng so cùng kỳ như: Tuyên Quang tăng 5,2%; Nghệ An tăng 3,4%; Gia Lai tăng 3,1%.

 Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 7 năm 2025 ước đạt 60 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2025 đạt 339,2 triệu USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 60,9 triệu USD, giảm 17%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 118,4 triệu USD, tăng 30,5%.

 Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 7 năm 2025 ước đạt 397,5 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2025 đạt 2,55 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 868,6 triệu USD, tăng 36,6%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,04 tỷ USD, tăng 12,3%.

– Giá trị nhập khẩu nguyên liệu TACN: Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 7 năm 2025 ước đạt 320 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 7 tháng đầu năm 2025 đạt 2,65 tỷ USD, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm 2024.

Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Áchentina, Hoa Kỳ và Braxin với thị phần lần lượt là 40,3%, 17% và 13%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2025 từ thị trường Áchentina tăng 30,5%, thị trường Hoa Kỳ giảm 32,4%, thị trường Braxin giảm 18,8%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Tây Ban Nha với mức tăng 40,8% và giảm mạnh nhất ở thị trường Ôxtrâylia với mức giảm 34%.

 Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tính đến ngày 30/7/2025 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm như sau:

(1) Bệnh Cúm gia cầm: Trong tháng 7, phát sinh 1 ổ dịch CGC A/H5N1; số gia cầm mắc bệnh là 3.500 con, số chết và tiêu hủy là 3.500 con. So sánh với tháng 6 số gia cầm tiêu hủy tăng 2.266 con tương đương 2,83 lần.

Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 07 ổ dịch CGC A/H5N1; số gia cầm tiêu hủy là 34.553 con. So sánh với cùng kỳ năm 2024 số ổ dịch tăng 05 ổ dịch, số gia cầm bị tiêu hủy tăng 20.795 con tương đương 2,51 lần. Hiện nay, có 01 ổ dịch CGC A/H5N1 tại tỉnh Nghệ An chưa qua 21 ngày.

(2) Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng 7, phát sinh 571 ổ dịch tại 29/37 tỉnh, thành phố; số chết và tiêu hủy là 73.488 con. So sánh với tháng 6, số ổ dịch tăng 347 ổ dịch tương đương với 2,54 lần, số lợn chết tiêu hủy tăng 64.652 tương đương 8,42 lần.

Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 978 ổ dịch tại 724 xã thuộc 33/34 tỉnh thành phố; số lợn chết và tiêu hủy là 102.755 con. So sánh cùng kỳ năm 2024, số lợn chết và tiêu hủy tăng 35.738 con tương đương 53,32%. Hiện nay, cả nước có 544 ổ dịch tại 30/34 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày;

(3) Bệnh Lở mồm long móng (LMLM): Trong tháng 7, phát sinh 01 ổ dịch Lở mồm long móng tại tỉnh Đăk Lăk; số gia súc mắc bệnh là 57 con.

Từ đầu năm đến nay, cả nước đã xảy ra 12 ổ dịch LMLM tại 08/34 tỉnh, thành phố; số gia súc mắc bệnh là 315 con, số gia súc chết và tiêu hủy là 36 con. So sánh với cùng kỳ năm 2024, giảm 35 ổ dịch tương đương 74,46%, số gia súc mắc bệnh giảm 1.171 con tương đương 78,8%, số tiêu hủy giảm 89 con tương đương 71,2%. Hiện nay, cả nước có 0 ổ dịch LMLM tại tỉnh Đăk Lăk chưa qua 21 ngày.

(4) Bệnh Tai xanh: Trong tháng 7, không phát sinh dịch bệnh Tai xanh. Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 01 ổ dịch bệnh Tai xanh.

(5) Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC): Trong tháng 7, phát sinh 02 ổ dịch tại 02 tỉnh Đăk Lăk và Đồng Tháp; số gia súc mắc bệnh là 04 con, số gia súc chết và tiêu hủy là 02 con. So sánh với tháng 6 số ổ dịch giảm 12 ổ dịch tương đương 85,71%, số mắc bệnh giảm 91,11%.

Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 42 ổ dịch tại 08/34 tỉnh số trâu, bò mắc bệnh là 97 con, số tiêu hủy là 37 con. So với cùng kỳ năm 2024, số ổ dịch giảm 56 ổ dịch tương đương 57,14%, số mắc bệnh giảm 443 con tương đương 82,03%, số chết và tiêu hủy giảm 91 con tương đương 71,09%. Hiện nay, cả nước có 02 ổ dịch tại 02 tỉnh Đăk Lăk và Đồng Tháp chưa qua 21 ngày.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại)

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động giảm trong tháng 7/2025. Cụ thể, giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 6.600 đồng/kg xuống còn 60.000 – 63.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên giảm 7.700 đồng/kg, dao động trong khoảng 58.000 – 63.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam giảm 7.400 đồng/kg xuống còn 61.000 – 64.000 đồng/kg. Giá thu mua lợn hơi trong nước có xu hướng giảm do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi khiến tiêu thụ thịt lợn giảm.

Giá thu mua gà thịt lông màu biến động tăng tại cả ba miền. Giá gà thịt lông màu tại miền Bắc tăng 1.000 đồng/kg lên 53.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu tại miền Trung tăng 2.500 đồng/kg lên mức 53.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu tại miền Nam tăng 5.500 đồng/kg lên 59.000 đồng/kg. Giá gà tăng do nhu cầu tiêu dùng tăng.

Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp tại miền Bắc giảm 1.000 đồng/kg xuống còn 23.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp tại miền Trung tăng 7.000 đồng/kg, hiện ở mức 32.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp tại miền Nam tăng 8.000 đồng/kg lên mức 33.000 đồng/kg.

Giá thu mua trứng gà biến động tăng tại cả ba miền. Giá trứng gà miền Bắc tăng 290 đồng/quả lên 2.620 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung tăng 240 đồng/quả lên 2.360 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam tăng 300 đồng/quả lên 2.280 đồng/quả. Giá trứng tăng do sản lượng trứng giảm trong khi nhu cầu tăng cao.

Trong tháng 7/2025, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 8/2025 giao dịch trên sàn CME biến động giảm nhẹ với mức giảm 1,025 US cent/lb xuống còn 108,525 US cent/lb. Giá thịt lợn giảm do lo ngại rằng Mexico, nước nhập khẩu thịt lợn lớn nhất, sẽ áp dụng thuế quan trả đũa đối với thịt lợn Mỹ vào tháng tới.

Trong tháng 7/2025, giá bò sống kỳ hạn tháng 8/2025 giao dịch trên sàn CME tăng 15,85 US cent/lb lên 229,725 US cent/lb. Giá bò sống tăng do báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy số lượng bò giảm 2% so với cùng kỳ năm trước.

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU 

+ Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: 

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 7 năm 2025 ước đạt 60 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2025 đạt 339,2 triệu USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 60,9 triệu USD, giảm 17%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 118,4 triệu USD, tăng 30,5%.

+ Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc của cả nước trong 7 tháng đầu năm 2025 đạt gần 741,36 triệu USD, tăng 26,91% so với 7 tháng đầu năm 2024;
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thức ăn gia súc của cả nước trong 7 tháng đầu năm 2025 đạt gần 741,36 triệu USD, tăng 26,91% so với 7 tháng đầu năm 2024; trong đó riêng tháng 7/2025 đạt 138,64 triệu USD, tăng 30,8% so với tháng 6/2025 và tăng 52,9% so với tháng 7/2024.
Xuất khẩu thức ăn gia súc sang thị trường Trung Quốc – thị ttường lớn nhất, tháng 7/2025 tăng 81,9% so với tháng 6/2025 và tăng 66,9 % so với tháng 7/2024, đạt gần 63,77 triệu USD, tính chung kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 7 tháng đầu năm 2025 đạt 323,04 triệu USD, tăng 35,1% so với 7 tháng đầu năm 2024, chiếm 43,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Xuất khẩu thức ăn gia súc sang thị trường Campuchia– thị trường lớn thứ 2 tăng 44,2% so với cùng kỳ, đạt 95,87 triệu USD, chiếm 12,9% trong tổng kim ngạch; riêng tháng 7/2025 tăng 3,8% so với tháng 6/2025 và tăng 56,5% so với tháng 7/2024, đạt 17,07 triệu USD.
Thị trường Mỹ xếp thứ 3 về kim ngạch, đạt 65,37 triệu USD, giảm 12,7% so với cùng kỳ; riêng trong tháng 7/2025 xuất khẩu thức ăn gia súc sang thị trường này giảm 23% so với tháng 6/2025 và giảm 2,1% so với tháng 7/2024, đạt 11,08 triệu USD.

+ Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi: 

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 7 năm 2025 ước đạt 397,5 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2025 đạt 2,55 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 868,6 triệu USD, tăng 36,6%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,04 tỷ USD, tăng 12,3%.

+ Nhập khẩu sữa vả sản phẩm từ sữa:

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa 7 tháng đầu năm 2025 đạt trên 858,08 triệu USD, tăng 35% so với 7 tháng đầu năm 2024.

Riêng tháng 7/2025 kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này đạt 129,21 triệu USD, giảm 13,7% so với tháng 6/2025 nhưng tăng 27,3% so với tháng 7/2024.
Newzealand, Mỹ, Australia, Ireland và Thái Lan là các thị trường chủ yếu cung cấp sữa và sản phẩm cho Việt Nam; trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ Newzealand đạt 268,23 triệu USD, chiếm 31,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, tăng mạnh 60,4% so với 7 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 7/2025 đạt 38,22 triệu USD, giảm 0,12% so với tháng 6/2025 nhưng tăng 46,7% so với tháng 7/2024.
Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Australia tăng 13% so với 7 tháng đầu năm 2024, đạt 76,09 triệu USD, chiếm 8,9%; Nhập khẩu sữa từ thị trường Mỹ giảm 13,2%, đạt 68,81 triệu USD, chiếm 8%.
Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Đức 7 tháng đầu năm 2025 tăng mạnh 92,3%, đạt 49,17 triệu USD, chiếm 5,7%.
Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Đông Nam Á đạt 107,18 triệu USD, chiếm 12,5%, tăng 16,6% so với 7 tháng đầu năm 2024; nhập khẩu từ các nước EU đạt 221,06 triệu USD, chiếm 25,8%, tăng mạnh 63,1%.Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa 7 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/8/2025 của CHQ). ĐVT: USD

Thị trường nhập khẩu sữa, sản phẩm sữa 7 tháng đầu năm 2025

+ Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu:

Trong 7 tháng đầu năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc đạt trên 2,67 tỷ USD, giảm 8,3% so với 7 tháng đầu năm 2024.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu về Việt Nam tháng 7/2025 tăng 3,6% so với tháng 6/2025 nhưng giảm 1,7% so với tháng 7/2024, đạt 346,38 triệu USD.
Tính chung trong 7 tháng đầu năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng này đạt trên 2,67 tỷ USD, giảm 8,3% so với 7 tháng đầu năm 2024.
Nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu nhiều nhất từ thị trường Achentina, chiếm 39,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 1,05 tỷ USD, tăng 27,1% so với 7 tháng đầu năm 2024; trong đó riêng tháng 7/2025 đạt 114,23 triệu USD, tăng 12,2% so với tháng 6/2025 và tăng 4,8% so với tháng 7/2024.
Đứng thứ 2 là thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng 16,7%, đạt trên 447,31 triệu USD, giảm 31,4% so với cùng kỳ; riêng tháng 7/2025 nhập khẩu từ thị trường này đạt 52,63 triệu USD, giảm 26,8% so với tháng 6/2025 và giảm 23,4% so với tháng 7/2024.
Tiếp đến thị trường Brazil trong tháng 7/2025 nhập khẩu tăng 37,1% so với tháng 6/2025 và tăng 7,8% so với tháng 7/2024, đạt 35,52 triệu USD; cộng chung cả 7 tháng đầu năm 2025 nhập khẩu từ thị trường này giảm 16,7% so với 7 tháng đầu năm 2024; đạt 336,95 triệu USD, chiếm 12,6% trong tổng kim ngạch.

– Nhập khẩu ngô: 

Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô các loại trong 7 tháng đầu năm 2025 đạt trên 5,47 triệu tấn, trị giá trên 1,41 tỷ USD, giá trung bình 258,3 USD/tấn, giảm 4,7% về lượng, giảm 1,2% kim ngạch nhưng tăng 3,7% về giá so với 7 tháng đầu năm 2024.

Trong đó, riêng tháng 7/2025 đạt 1,03 triệu tấn, tương đương 260,74 triệu USD, giá trung bình 253,7 USD/tấn, tăng 118,7% về lượng và tăng 113,3% kim ngạch nhưng giảm 2,5% về giá so với tháng 6/2025; so với tháng 7/2024 cũng tăng 15,2% về lượng, tăng 21,6% về kim ngạch và tăng 5,5% về giá.
Achentina là thị trường lớn nhất cung cấp ngô cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2025, chiếm trên 53,2% trong tổng lượng và chiếm 53,1% tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt gần 2,91 triệu tấn, tương đương trên 750,27 triệu USD, giá trung bình 257,7 USD/tấn, giảm 8,6% về lượng, giảm 2,9% kim ngạch nhưng tăng 6,3% về giá so với 7 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 7/2025 đạt 551.355 tấn, tương đương 139,87 triệu USD, giá 253,7 USD/tấn, tăng mạnh 40,6% về lượng và tăng 38,9% về kim ngạch so với tháng 6/2025 nhưng giá giảm 1,2%; so với tháng 7/2024 thì giảm 13,7% về lượng, giảm 9,7% kim ngạch nhưng giá tăng 4,6%.
Thị trường lớn thứ 2 là Brazil, 7 tháng đầu năm 2025 đạt trên 1,11 triệu tấn, tương đương 277,34 triệu USD, giá 250 USD/tấn, chiếm 20,3% trong tổng lượng và chiếm 19,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm 29,5% về lượng, giảm 31,1% về kim ngạch và giá giảm 2,4% so với 7 tháng đầu năm 2024.
Bên cạnh 2 thị trường chủ đạo trên, Việt Nam còn nhập khẩu ngô từ thị trường Lào 7 tháng đầu năm 2025 đạt 51.593 tấn, tương đương 11,63 triệu USD, giá 225,5 USD/tấn, giảm 30,8% về lượng, giảm 37,6% về kim ngạch và giá giảm 9,8% so với 7 tháng đầu năm 2024; nhập khẩu từ thị trường Thái Lan đạt 2.706 tấn, tương đương 10,54 triệu USD, giảm 20,7% về lượng, giảm 12,7% về kim ngạch; nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ 1.693 tấn, tương đương 2,91 triệu USD, giảm 33,9% về lượng, giảm 57,5% về kim ngạch.Nhập khẩu ngô 7 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/8/2025 của CHQ)

Nhập khẩu ngô 7 tháng đầu năm 2025 sụt giảm

– Nhập khẩu đậu tương: 

Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương các loại trong 7 tháng đầu năm 2025 đạt 1,51 triệu tấn, trị giá trên 695,92 triệu USD, giá trung bình 459,8 USD/tấn, tăng 15,3% về lượng, nhưng giảm 1,2% kim ngạch và giảm 12,2% về giá so với 7 tháng đầu năm 2024.

Trong đó, riêng tháng 7/2025 đạt 292.348 tấn, tương đương 138,66 triệu USD, giá trung bình 474,3 USD/tấn, tăng 2,9% về lượng, tăng 8,1% kim ngạch và tăng 5% về giá so với tháng 6/2025; so với tháng 7/2024 cũng tăng 18,9% về lượng, tăng 11,1% về kim ngạch nhưng giảm 6,6% về giá.
Brazil là thị trường lớn nhất cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2025, chiếm 53,1% trong tổng lượng và chiếm 53,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, đạt 803.975 tấn, tương đương trên 372,97 triệu USD, giá trung bình 463,9 USD/tấn, tăng 3% về lượng, nhưng giảm 5,5% về kim ngạch và giảm 8,2% về giá so với 7 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 7/2025 đạt 232.839 tấn, tương đương 110,71 triệu USD, giá 475,5 USD/tấn, tăng 12% về lượng, tăng 17% kim ngạch so với tháng 6/2025 và giá tăng 4,5%; so với tháng 7/2024 thì tăng 23,1% về lượng, tăng 16,7% kim ngạch nhưng giảm 5,2% về giá.
Thị trường lớn thứ 2 là Mỹ, 7 tháng đầu năm 2025 đạt 550.511 tấn, tương đương 248,19 triệu USD, giá 450,8 USD/tấn, chiếm 36,4% trong tổng lượng và chiếm 35,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng 30,3% về lượng, tăng 8,3% về kim ngạch nhưng giá giảm 16,8% so với 7 tháng đầu năm 2024.
Sau đó là thị trường Canada 7 tháng đầu năm 2025 đạt 125.806 tấn, tương đương 59,44 triệu USD, giá 472,4 USD/tấn, chiếm 8,3% trong tổng lượng và chiếm 8,5% tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng mạnh 77,5% về lượng, tăng 39,2% về kim ngạch nhưng giá giảm 21,6% so với 7 tháng đầu năm 2024.Nhập khẩu đậu tương 7 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/8/2025 của TCHQ)

Nhập khẩu đậu tương từ các thị trường 7 tháng đầu năm 2025

– Nhập khẩu lúa mì: 

Nhập khẩu lúa mì các loại trong 7 tháng đầu năm 2025 đạt gần 3,28 triệu tấn, trị giá trên 877,21 triệu USD, giá trung bình 267,5 USD/tấn
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong 7 tháng đầu năm 2025 đạt gần 3,28 triệu tấn, trị giá trên 877,21 triệu USD, giá trung bình 267,5 USD/tấn, giảm 4,7% về lượng, giảm 8,1% kim ngạch và giảm 3,6% về giá so với 7 tháng đầu năm 2024.
Trong đó, riêng tháng 7/2025 đạt 218.168 tấn, tương đương 60,56 triệu USD, giá trung bình 277,6 USD/tấn, giảm 32,2% về lượng, giảm 31,4% kim ngạch nhưng tăng 1,2% về giá so với tháng 6/2025; so với tháng 7/2024 cũng giảm 31,1% về lượng, giảm 34,4 % về kim ngạch và giảm 4,9% về giá.
Brazil là thị trường lớn nhất cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2025, chiếm 30,2% trong tổng lượng và chiếm 29% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, đạt 989.002 tấn, tương đương gần 254,41 triệu USD, giá trung bình 257,2 USD/tấn, giảm 15,8% về lượng, giảm 13,2% kim ngạch nhưng tăng 3,1% về giá so với 7 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 7/2025 tiếp tục không nhập khẩu lúa mì từ thị trường này.
Thị trường lớn thứ 2 là Australia, 7 tháng đầu năm 2025 đạt 823.704 tấn, tương đương 223,81 triệu USD, giá 271,7 USD/tấn, chiếm 25,1% trong tổng lượng và chiếm 25,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, tăng 11,8% về lượng, nhưng giảm 1,6% về kim ngạch và giá giảm 12% so với 7 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 7/2025 đạt 75.926 tấn, tương đương 21,1 triệu USD, giá trung bình 277,9 USD/tấn, giảm 23,4% về lượng, giảm 18,6% kim ngạch nhưng tăng 6,3% về giá so với tháng 6/2025; so với tháng 7/2024 thì giảm 15,9% về lượng, giảm 20,3% về kim ngạch và giảm 5,2% về giá.
Tiếp đến thị trường Mỹ 7 tháng đầu năm 2025 đạt 387.789 tấn, tương đương 106,79 triệu USD, giá 275,4 USD/tấn, chiếm 11,8% trong tổng lượng và chiếm 12,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, tăng mạnh 50,8% về lượng, tăng 26,8% về kim ngạch nhưng giá giảm 15,9% so với 7 tháng đầu năm 2024.Nhập khẩu lúa mì 7 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/8/2025 của CHQ)

Nhập khẩu lúa mì 7 tháng đầu năm 2025 sụt giảm

Tài liệu hướng dẫn chăn nuôi

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

Mua Bán
AUD 17,113.45 17,839.93
CAD 18,444.01 19,226.98
EUR 29,799.38 31,370.44
GBP 34,401.03 35,861.39
JPY 160.16 170.34
USD 26,061.00 26,391.00
Nguồn: Vietcombank (Cập nhật 3h/lần)

Bài viết liên quan

An toàn sinh học chống ASF

Đó là tựa đề cuốn sách của tác giả – Thạc sĩ Nguyễn Văn Non, được xuất bản lần thứ nhất bởi Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.

Sự phát triển của bê con

Về tầm quan trọng kinh tế đối với cả hai hướng ngắn hạn và dài hạn, thì sức khỏe bê con và tỉ lệ tăng trưởng có thể có một