Đang tải...
Tiếng Việt Tiếng Việt
English English
/Dự báo tăng trưởng/TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 6/2025

TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC THÁNG 6/2025

Bạn muốn nghe bài viết?

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sáu tháng đầu năm 2025, sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định. Chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phục hồi, dịch bệnh được kiểm soát, giá bán sản phẩm duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi, thị trường tiêu thụ trong nước ổn định, các chính sách hỗ trợ về con giống, thức ăn chăn nuôi và vốn vay ưu đãi đã góp phần khuyến khích người dân tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi. Ước tính đến cuối tháng 6/2025, đàn lợn của cả nước tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, đàn gia cầm tăng 4%, trong khi tổng số trâu giảm 3,4%, đàn bò giảm 0,6%. Cụ thể:

– Chăn nuôi lợn: Giá thịt lợn hơi tăng khá cao trong 6 tháng đầu năm 20254 đã khuyến khích người dân đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. Theo Cục Thống kê uớc tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 6/2025 tăng 3,8% so với cùng thời điểm năm 2024; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 2.698,9 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Đàn lợn tại một số địa phương tăng cao do có nhiều doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất như Gia Lai tăng 30%5 so với cùng kỳ năm trước, Kon Tum tăng 20%6, đặc biệt là Tây Ninh, đàn lợn tăng hơn 48% do từ đầu năm đến nay một số dự án chăn nuôi lợn với quy mô lớn đã đi vào hoạt động7.

– Chăn nuôi gia cầm: Theo Cục Thống kê, ước tính tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 6 tăng 4% so với cùng thời điểm năm 2024; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 1.277,3 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2024; sản lượng trứng gia cầm 6 tháng đầu năm ước đạt 10,5 tỷ quả, tăng 4,3%. Nhìn chung đàn gia cầm cả nước phát triển ổn định trong 6 tháng đầu năm, khu vực doanh nghiệp phát triển tốt, dịch bệnh được kiểm soát, chỉ phát sinh một số ổ dịch nhỏ lẻ.

– Chăn nuôi trâu, bò: Đàn trâu, bò trên cả nước trong 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả thu hẹp. Theo Cục Thống kê ước tính tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Sáu năm 2025 giảm 3,4% so với cùng thời điểm năm 2024; tổng số bò giảm 0,6%, trong đó số bò sữa giảm 0,7% chủ yếu do đàn bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh giảm gần 25%8. Mặc dù đàn bò sữa giảm nhưng các doanh nghiệp sản xuất như TH, Vinamilk,… đã tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác giống nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nên tổng sản lượng sữa cả nước vẫn đạt khá. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 62,3 nghìn tấn, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 261,5 nghìn tấn, tăng 2,2%; sản lượng sữa bò tươi đạt 680,8 nghìn tấn, tăng 5,8%.

 Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2025 ước đạt 49,2 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2025 đạt 264,4 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 46,1 triệu USD, giảm 27,8%, trong khi xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 101,4 triệu USD, tăng 28,2%.

 Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi: Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2025 ước đạt 383,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2025 đạt 2,11 tỷ USD, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 749 triệu USD, tăng 40,1%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 872,8 triệu USD, tăng 14,5%.

– Giá trị nhập khẩu nguyên liệu TACN: Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 6 năm 2025 ước đạt 300 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2025 đạt 2,3 tỷ USD, giảm 9% so với cùng kỳ năm 2024.

 Về thú y: Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, tính đến ngày 28/6/2025 tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm như sau:

(1) Bệnh Cúm gia cầm: Không có báo cáo ổ dịch bệnh mới phát sinh tại các địa phương. Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch bệnh Cúm gia cầm thuộc 01 quận của thành phố Hải Phòng chưa qua 21 ngày. Số gia cầm mắc bệnh là 2.118 con, số gia cầm chết và tiêu hủy là 2.118 con.

(2) Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Phát sinh 17 ổ dịch mới tại tại các tỉnh Cao Bằng, Sơn La; số lợn mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 1.503 con. Tại các ổ dịch chưa qua 21 ngày các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, phát sinh số lợn mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 118 con. Hiện nay, cả nước có 176 ổ dịch bệnh Dịch tả lợn Châu Phi thuộc 51 huyện của 18 tỉnh chưa qua 21 ngày. Số lợn mắc bệnh là 9.316 con, số lợn chết và tiêu hủy là 9.424 con.

(3) Bệnh Lở mồm long móng: Không có báo cáo ổ dịch bệnh mới phát sinh tại các địa phương. Hiện nay, cả nước không có ổ dịch Lở mồm long móng chưa qua 21 ngày.

(4) Bệnh Viêm da nổi cục: Không có báo cáo ổ dịch bệnh mới phát sinh tại các địa phương. Hiện nay, cả nước có 02 ổ dịch bệnh Viêm da nổi cục thuộc 02 huyện của 01 tỉnh chưa qua 21 ngày. Số gia súc mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 04 con.

(5) Bệnh Tai xanh: Không có báo cáo ổ dịch bệnh mới phát sinh tại các địa phương. Hiện nay, cả nước có 01 ổ dịch bệnh Tai xanh thuộc 01 huyện của 01 tỉnh chưa qua 21 ngày. Số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 01 con.

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại)

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động trái chiều trong tháng 6/2025, cụ thể: Giá lợn hơi tại miền Bắc tăng 1.000 đồng/kg lên mức 68.000 – 69.000 đồng/kg.

Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên giảm 500 đồng/kg, dao động trong khoảng 68.000 – 73.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam giảm 1.000 đồng/kg xuống còn 71.000 – 73.000 đồng/kg. Giá lợn hơi có xu hướng giảm do sức mua giảm trong bối cảnh thời tiết nắng nóng, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn giảm.

Giá thu mua gà thịt lông màu biến động tăng tại cả ba miền trên cả nước. Giá gà thịt lông màu miền Bắc tăng 2.000 đồng/kg lên 48.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung và miền Nam tăng 1.600 đồng/kg lên mức 49.000 đồng/kg và 51.000 đồng/kg.

Giá gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 2.000 đồng/kg lên 26.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung giảm 6.000 đồng/kg xuống còn 26.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Nam giảm 4.000 đồng/kg, hiện ở mức 27.000 đồng/kg.

Trong tháng 6/2025, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 7/2025 giao dịch trên sàn CME biến động tăng với mức tăng 7,25 US cent/lb lên 112,175 US cent/lb. Giá thịt lợn tăng do nhu cầu tiêu dùng có xu hướng tăng.

Trong tháng 6/2025, giá bò sống kỳ hạn tháng 8/2025 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò sống) tăng 2,325 US cent/lb lên mức 211,675 US cent/lb. Giá bò sống tăng do sản lượng thịt bò giảm (theo Ước tính Cung cầu Nông nghiệp thế giới của Bộ Nông nghiệp Mỹ – USDA).

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU 

+ Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi: 

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2025 ước đạt 49,2 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2025 đạt 264,4 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 46,1 triệu USD, giảm 27,8%, trong khi xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 101,4 triệu USD, tăng 28,2%.

+ Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu: 

6 tháng đầu năm 2025 xuất khẩu nhóm hàng  thức ăn gia súc đạt gần 602,99 triệu USD, tăng 22,3% so với 6 tháng đầu năm 2024.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc tháng 6/2025 giảm 2,7% so với tháng 5/2025 nhưng tăng 22,4% so với tháng 6/2024, đạt gần 106 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025 xuất khẩu nhóm hàng này đạt gần 602,99 triệu USD, tăng 22,3% so với 6 tháng đầu năm 2024.
Thức ăn gia súc xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2025, chiếm 43% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 259,49 triệu USD, tăng 29,4% so với 6 tháng đầu năm 2024; trong đó riêng tháng 6/2025 đạt trên 35,07 triệu USD, giảm 26,3% so với tháng 5/2025 và giảm 4,1% so với tháng 6/2024.
Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Campuchia chiếm tỷ trọng 13,1%, đạt trên 78,8 triệu USD, tăng 41,9% so với cùng kỳ năm 2024; riêng tháng 6/2025 xuất khẩu sang thị trường này đạt 16,45 triệu USD, tăng 15,9% so với tháng 5/2025 và tăng mạnh 108,6% so với tháng 6/2024.
Tiếp đến thị trường Mỹ trong tháng 6/2025 tăng 67,7% so với tháng 5/2025 và tăng 17,1% so với tháng 6/2024, đạt 14,39 triệu USD; cộng chung cả 6 tháng đầu năm 2025 xuất khẩu sang thị trường này giảm 14,7% so với 6 tháng đầu năm 2024, đạt 54,29 triệu USD, chiếm 9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Xuất khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc sang thị trường Malaysia trong tháng 6/2025 tăng 1,7% so với tháng 5/2025 và tăng 9,3% so với tháng 6/2024, đạt 9,77 triệu USD; cộng chung cả 6 tháng đầu năm 2025 xuất khẩu sang thị trường Malaysia tăng 6,2% so với 6 tháng đầu năm 2024, đạt 52,58 triệu USD, chiếm 8,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Nhìn chung, xuất khẩu thức ăn gia súc trong 6 tháng đầu năm 2025 sang đa số thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2025

(Tính toán từ số liệu công bố ngày 10/7/2025 của Cục HQ). ĐVT: USD

Xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2025

+ Nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi: 

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2025 ước đạt 383,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2025 đạt 2,11 tỷ USD, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 749 triệu USD, tăng 40,1%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 872,8 triệu USD, tăng 14,5%.

+ Nhập khẩu sữa vả sản phẩm từ sữa: 

+ Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu:

6 tháng đầu năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng  thức ăn gia súc đạt gần 2,33 tỷ USD, giảm 9,2% so với 6 tháng đầu năm 2024.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc tháng 6/2025 giảm 21,4% so với tháng 5/2025 và giảm 21% so với tháng 6/2024, đạt gần 334,5 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025 nhập khẩu nhóm hàng này đạt gần 2,33 tỷ USD, giảm 9,2% so với 6 tháng đầu năm 2024.
Thức ăn gia súc nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Achentina trong 6 tháng đầu năm 2025, chiếm 40,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt trên 937,05 triệu USD, tăng mạnh 30,6% so với 6 tháng đầu năm 2024; trong đó riêng tháng 6/2025 đạt gần 101,85 triệu USD, giảm 33,7% so với tháng 5/2025 và giảm 40,9% so với tháng 6/2024.
Đứng thứ 2 về kim ngạch là thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng 17%, đạt gần 394,64 triệu USD, giảm 32,3% so với cùng kỳ năm 2024; riêng tháng 6/2025 nhập khẩu từ thị trường này đạt 71,87 triệu USD, giảm 25,7% so với tháng 5/2025 và giảm 15,2% so với tháng 6/2024.
Tiếp đến thị trường Brazil trong tháng 6/2025 giảm 41,4% so với tháng 5/2025 và giảm mạnh 55,3% so với tháng 6/2024, đạt 25,92 triệu USD; cộng chung cả 6 tháng đầu năm 2025 nhập khẩu từ thị trường này giảm 18,9% so với 6 tháng đầu năm 2024, đạt 301,43 triệu USD, chiếm 13% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

– Nhập khẩu ngô: 

Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô các loại trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt gần 4,45 triệu tấn, trị giá trên 1,15 tỷ USD, giá trung bình 259,3 USD/tấn, giảm 8,3% về lượng, giảm 5,1% kim ngạch nhưng tăng 3,5% về giá so với 6 tháng đầu năm 2024.

Trong đó, riêng tháng 6/2025 đạt 469.996 tấn, tương đương 122,25 triệu USD, giá trung bình 260 USD/tấn, giảm 53,6% về lượng và giảm 53,9% kim ngạch và giảm 0,7% về giá so với tháng 5/2025; so với tháng 6/2024 cũng giảm 28,2% về lượng, giảm 22,9% về kim ngạch nhưng tăng 7,3% về giá.
Achentina là thị trường lớn nhất cung cấp ngô cho Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2025, chiếm trên 53% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt gần 2,36 triệu tấn, tương đương trên 611,25 triệu USD, giá trung bình 258,6 USD/tấn, giảm 7,1% về lượng, giảm 0,9% kim ngạch nhưng tăng 6,7% về giá so với 6 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 6/2025 đạt 392.055 tấn, tương đương 100,68 triệu USD, giá 256,8 USD/tấn, giảm mạnh trên 51% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 5/2025 và giá giảm 0,6%; so với tháng 6/2024 cũng giảm 26,9% về lượng, giảm 22% kim ngạch nhưng giá tăng 6,6%.
Thị trường lớn thứ 2 là Brazil, 6 tháng đầu năm 2025 đạt trên 1 triệu tấn, tương đương 250,17 triệu USD, giá 249,4 USD/tấn, chiếm 22,6% trong tổng lượng và chiếm 21,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, giảm 32,8% về lượng, giảm 34,7% về kim ngạch và giá giảm 2,9% so với 6 tháng đầu năm 2024.
Bên cạnh 2 thị trường chủ đạo trên, Việt Nam còn nhập khẩu ngô từ thị trường Lào 6 tháng đầu năm 2025 đạt 49.561 tấn, tương đương 11,19 triệu USD, giá 225,7 USD/tấn, giảm 33,6% về lượng, giảm 40% về kim ngạch và giá giảm 9,7% so với 6 tháng đầu năm 2024; nhập khẩu từ thị trường Thái Lan đạt 2.437 tấn, tương đương 9,36 triệu USD, giảm 27,6% về lượng, giảm 20% về kim ngạch; nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ 1.645 tấn, tương đương 2,89 triệu USD, giảm 35,8% về lượng, giảm 57,8% về kim ngạch.Nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/7/2025 của CHQ)

Nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2025 trị giá trên 1,15 tỷ USD

– Nhập khẩu đậu tương: 

Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương các loại trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 1,22 triệu tấn, trị giá trên 557,25 triệu USD, giá trung bình 456,3 USD/tấn, tăng 14,7% về lượng, nhưng giảm 0,8% kim ngạch và giảm 13,5% về giá so với 6 tháng đầu năm 2024.

Trong đó, riêng tháng 6/2025 đạt 284.061 tấn, tương đương 128,27 triệu USD, giá trung bình 451,6 USD/tấn, tăng 21,5% về lượng, tăng 15,7% kim ngạch nhưng giảm 4,8% về giá so với tháng 5/2025; so với tháng 6/2024 cũng tăng mạnh 311,5% về lượng, tăng 262% về kim ngạch nhưng giảm 12% về giá.
Brazil là thị trường lowsn nhất cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2025, chiếm 46,8% trong tổng lượng và chiếm 47,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, đạt 571.213 tấn, tương đương trên 262,26 triệu USD, giá trung bình 459 USD/tấn, giảm 3,5% về lượng, giảm 12,5% về kim ngạch và giảm 9,4% về giá so với 6 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 6/2025 đạt 207.987 tấn, tương đương 94,62 triệu USD, giá 454,9 USD/tấn, tăng 27,9% về lượng, tăng 19,5% kim ngạch so với tháng 5/2025 nhưng giá giảm 6,6%; so với tháng 6/2024 thì tăng rất mạnh 932% về lượng, tăng 901% kim ngạch nhưng giảm 3% về giá.
Thị trường lớn thứ 2 là Mỹ, 6 tháng đầu năm 2025 đạt 503.907 tấn, tương đương 226,86 triệu USD, giá 450 USD/tấn, chiếm 41,3% trong tổng lượng và chiếm 40,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng 33,6% về lượng, tăng 10,2% về kim ngạch nhưng giá giảm 17,5% so với 6 tháng đầu năm 2024.
Sau đó là thị trường Canada 6 tháng đầu năm 2025 đạt 113.986 tấn, tương đương 53,39 triệu USD, giá 468,4 USD/tấn, chiếm 9,3% trong tổng lượng và chiếm 9,6% tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng mạnh 98,9% về lượng, tăng 52,4% về kim ngạch nhưng giá giảm 23,4% so với 6 tháng đầu năm 2024.Nhập khẩu đậu tương 6 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/7/2025 của CHQ)

Khối lượng đậu tương nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2025 tăng 14,7%

– Nhập khẩu lúa mì: 

Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt trên 3,06 triệu tấn, trị giá gần 817,27 triệu USD, giá trung bình 266,8 USD/tấn, giảm 1,9% về lượng, giảm 5,2% kim ngạch và giảm 3,4% về giá so với 6 tháng đầu năm 2024.

Trong đó, riêng tháng 6/2025 đạt 321.798 tấn, tương đương 88,3 triệu USD, giá trung bình 274,4 USD/tấn, giảm 4,5% về lượng, giảm 3% kim ngạch nhưng tăng 1,6% về giá so với tháng 5/2025; so với tháng 6/2024 thì tăng 11,7% về lượng, tăng 8,4% về kim ngạch nhưng giảm 2,9% về giá.
Brazil là thị trường lớn nhất cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2025, chiếm 32,3% trong tổng lượng và chiếm 31,1% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, đạt 989.002 tấn, tương đương gần 254,41 triệu USD, giá trung bình 257,2 USD/tấn, giảm 14% về lượng, giảm 11,5% kim ngạch nhưng tăng 3% về giá so với 6 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 6/2025 tiếp tục không nhập khẩu lúa mì từ thị trường này.
Thị trường lớn thứ 2 là Australia, 6 tháng đầu năm 2025 đạt 749.978 tấn, tương đương 203,33 triệu USD, giá 271 USD/tấn, chiếm 24,5% trong tổng lượng và chiếm 24,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, tăng 15,9% về lượng, tăng 1,2% về kim ngạch nhưng giá giảm 12,8% so với 6 tháng đầu năm 2024; riêng tháng 6/2025 đạt 99.143 tấn, tương đương 25,93 triệu USD, giá trung bình 261,6 USD/tấn, tăng 5% về lượng, tăng 0,12% kim ngạch nhưng giảm 4,7% về giá so với tháng 5/2025; so với tháng 6/2024 thì giảm 15,2% về lượng, giảm 24% về kim ngạch và giảm 10,4% về giá.
Tiếp đến thị trường Mỹ 6 tháng đầu năm 2025 đạt 380.519 tấn, tương đương 104,96 triệu USD, giá 275,8 USD/tấn, chiếm 12,4% trong tổng lượng và chiếm 12,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước, tăng mạnh 68,3% về lượng, tăng 40,8% về kim ngạch nhưng giá giảm 16,3% so với 6 tháng đầu năm 2024.Nhập khẩu lúa mì 6 tháng đầu năm 2025

(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/7/2025 của CHQ)

Thị trường nhập khẩu lúa mì 6 tháng đầu năm 2025

Tài liệu hướng dẫn chăn nuôi

Thời tiết

Đang tải...

Tỷ giá ngoại tệ

Mua Bán
AUD 17,113.45 17,839.93
CAD 18,444.01 19,226.98
EUR 29,799.38 31,370.44
GBP 34,401.03 35,861.39
JPY 160.16 170.34
USD 26,061.00 26,391.00
Nguồn: Vietcombank (Cập nhật 3h/lần)

Bài viết liên quan

An toàn sinh học chống ASF

Đó là tựa đề cuốn sách của tác giả – Thạc sĩ Nguyễn Văn Non, được xuất bản lần thứ nhất bởi Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.

Sự phát triển của bê con

Về tầm quan trọng kinh tế đối với cả hai hướng ngắn hạn và dài hạn, thì sức khỏe bê con và tỉ lệ tăng trưởng có thể có một